Thị trường Ôtô trong tương lai liệu có được bùng nổ.

Bulong hay còn gọi là bu lông được công ty Cường Thịnh nhập khẩu, gia công và phân phối với quy mô lớn. Qua nhiều năm kinh nghiệm cũng như uy tín của mình, bulong Cường Thịnh chuyên các dòng sản phẩm như: bulong, bulong móng, bulong neo, bulong liên kết, bulong 8.8, bulong 4.6, bulong cường độ cao, bulong cường độ thấp. Chúng tôi tin rằng các sản phẩm bulong luôn vượt chuẩn trong các công trình xây dựng, cơ khí. Ngoài ra, một số sản phẩm bulong của chúng tôi được gia công trực tiếp nên giá thành rẻ nhất đảm bảo giá trị kinh tế cao. Hãy gọi ngay bulong Cường Thịnh

bulong neo  Đang tải... Vui lòng chờ...
 

Thị trường Ôtô trong tương lai liệu có được bùng nổ.

Năm 2018 được xem là cột mốc đặc biệt cho ngành otô đang đến gần. Bởi đó là thời điểm thuế nhập khẩu ôtô sẽ về 0% từ các nước ASEAN. Do đó, câu chuyện về tỷ lệ nội địa hóa ngành ôtô và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt ngày càng trở nên nóng hơn bao giờ hết.

Thực trạng ngành sản xuất Ôtô tại Việt Nam

Sau 20 năm phát triển, công nghiệp ôtô của Việt Nam vẫn chưa có hình hài, và làm như thế nào để hoàn thành giấc mơ Người Việt dùng ôtô Việt vẫn là một câu hỏi khó giải đáp

ông Đào Phan Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí đánh giá về những kết quả đạt được của ngành cơ khí, phụ trợ cho ôtô sau nhiều năm hình thành và phát triển là vẫn chưa đạt. Kể từ khi Việt Nam có chính sách kêu gọi phát triển ngành ôtô, trong khoảng 20 năm, tỷ lệ nội địa hóa vẫn chưa được như mong muốn, chỉ đạt dưới 30%.

Tuy nhiên, các bộ phận quan trọng, có hàm lượng công nghệ và giá trị cao như động cơ thì Việt Nam chưa làm được. Hệ thống khung gầm, sắt xi, nội thất, hộp số, cầu xe..., chúng ta chỉ làm một số bộ phận nội thất, thùng xe tải, vỏ xe buýt và gần đây là lốp. Còn hầu như Việt Nam phải nhập khẩu, từ bulong, ốc vít để lắp ráp, sản xuất xe...Tất cả những phụ tùng đó, tính chung tỷ lệ nội địa hóa Việt Nam tham gia chỉ được dưới 25% về mặt giá trị.

Cũng theo ông, nguyên nhân khiến ngành công nghiệp ôtô Việt Nam sau 20 năm vẫn chưa phát triển như mong muốn là hiện nay, tại các bộ, ngành, có rất ít người có thể am tường về sản xuất cơ khí nói chung và về ôtô nói riêng thì khi đưa ra chính sách sẽ rất khó để có được ôtô sản xuất tại Việt Nam.

Thời điểm ban đầu, chính sách ôtô Việt Nam có sự rõ ràng vì lúc đó chúng ta biết lựa chọn loại sản phẩm, xe gì để đầu tư. Chúng ta có thể làm được xe chở khách, xe buýt, rồi xe tải nhỏ, theo hình thức lắp ráp, sản xuất một số loại phụ tùng. Sau đó chúng ta tiếp tục đưa ra các điều kiện lựa chọn doanh nghiệp để khuyến khích làm ôtô. Trên cơ sở ấy, có hỗ trợ về thuế, tạo vốn cho doanh nghiệp, nhưng các chính sách ấy lại được khai thác không đúng, không hợp lý.

Với liên doanh, do có ưu đãi về thuế, đất đai, nhân lực... nên đã thu hút được đầu tư FDI. Nhưng vì chúng ta chỉ lấy đất ra góp với liên doanh Toyota, Honda, Ford... nên quyền sở hữu quốc doanh chỉ có 30% và không có tiếng nói, hoàn toàn phụ thuộc chính sách công ty nước ngoài. Và như vậy, các doanh nghiệp dần trở thành các nhà nhập khẩu, bán ôtô chứ không phải cùng Việt Nam làm ôtô.

Đến nay, để làm công nghiệp phụ trợ cho ôtô thì có hàng nghìn doanh nghiệp vệ tinh, các doanh nghiệp FDI lớn này đã có cơ sở sản xuất ở Trung Quốc, Thái Lan... và tham gia chuỗi toàn cầu.

Tham khảo thêm bulong neo ( bulong móng

Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến 2035?

Mốc 2018 khi thuế về 0% đã đến rất gần. Doanh nghiệp Việt Nam còn yếu và ít ỏi, lại thiếu liên kết nên sẽ rất khó giữ được thị trường và tăng nội địa hóa ngay được. Nhưng với dung lượng 100 triệu dân, an sinh xã hội và an ninh quốc phòng tốt như hiện nay thì câu hỏi đặt ra chúng ta có làm ôtô không, làm cái gì, để có thị trường trong nước rồi vươn ra khu vực ? Như Thái Lan trong nhiều năm qua cũng chỉ có tập trung 1 dòng xe bán tải Pickup. Cho nên, đã đến lúc Việt Nam phải nhìn nhận lại chiến lược về ôtô, nên lấy động lực doanh nghiệp sẵn có trong nhiều năm qua, củng cố bằng bàn tay nhà nước chứ không phải củng cố chỉ bằng nỗ lực của doanh nghiệp.

Câu hỏi đặt ra là liệu sắp tới 20 năm nữa, chiến lược tầm nhìn đến năm 2035, Việt Nam có làm ôtô không, chính sách ra làm sao, làm dòng xe nào, đơn hàng như thế nào, bảo vệ thị trường ra sao… để hài hòa cho doanh nghiệp đầu tư sản xuất ôtô nhưng không vi phạm hợp tác quốc tế. Vấn đề quan trọng nhất, theo tôi là ý chí của quốc gia, của Chính phủ, chứ không chỉ riêng của doanh nghiệp. Người làm ôtô chỉ dám bung sức khi có sức mua thị trường và có chính sách khuyến khích phù hợp.

 

 

In văn bản